Thông tin tổng hợp

Chính trị

Đứng riêng

Hệ lụy Trung Quốc vươn ra toàn cầu (K2): Nhà nước hà hơi tiếp sức

Để đạt được mục tiêu chiến lược vươn ra thế giới, trong những năm 2000, Trung Quốc đã thúc đẩy công cuộc tìm kiếm các dự án đầu tư sinh lời và những thị trường mới tiềm năng trên toàn cầu thông qua các chính sách kinh tế đối ngoại cụ thể. Từ đó, không chỉ ở châu Á, doanh nghiệp Trung Quốc bắt đầu “đổ bộ” vào các nước châu Phi, Mỹ Latin, châu Âu…

Nỗ lực nâng cấp doanh nghiệp

Tầm quan trọng của việc hỗ trợ về chính sách đối với nỗ lực vươn ra thế giới của các công ty Trung Quốc, ở mức độ lớn, bắt nguồn từ tham vọng phát triển thiên về kinh doanh nhằm gia nhập vào phân khúc thị trường công nghệ cao. Và không chỉ có các doanh nghiệp nhà nước được hỗ trợ. Ngày nay, các công ty tư nhân lớn cũng được các lãnh đạo nhà nước coi như “nhà vô địch của quốc gia”, xứng đáng nhận được các hỗ trợ về chính sách. Một động cơ khác thúc đẩy các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc hỗ trợ cho chiến lược đầu tư ra nước ngoài là những biến động kinh tế-xã hội đáng lo ngại của quốc gia này. Một trong các vấn đề quan trọng mà chính phủ đã xác định vào những năm 2000 là các công ty mới chỉ cạnh tranh bằng cơ chế lương thấp. Do đó, cũng giống như các nền kinh tế mới nổi trước đây, Trung Quốc muốn tiến lên trong chuỗi giá trị và phát triển những nguồn lực sáng tạo nội sinh thêm lớn mạnh. Nhiều nỗ lực rộng khắp đã được thực hiện nhằm kết hợp tính sáng tạo của doanh nghiệp với các năng lực của nhà nước. Xu hướng hỗ trợ các công ty tiến ra toàn cầu, ở một mức độ lớn, xuất phát từ những nỗ lực “nâng cấp” này – và rõ ràng, các công ty đã được hỗ trợ thậm chí lớn hơn nhiều so với các nền kinh tế mới nổi khác cũng đang khuyến khích doanh nghiệp trong nước đầu tư ra nước ngoài.

(more…)

Advertisements

Đứng riêng

Hệ lụy Trung Quốc vươn ra toàn cầu (K1): Tăng cường bành trướng

Ngày nay, OFDI của Trung Quốc bao gồm nhiều thành phần khác nhau, từ các hợp đồng quốc tế, công ty liên doanh, công ty con tại nước ngoài cho đến hình thức mua bán sáp nhập và mua cổ phần. Sau khi tạo được các mối liên kết quốc tế thông qua bán hàng trực tiếp, các công ty Trung Quốc thường thiết lập các thỏa thuận hợp đồng ở nước ngoài (thí dụ các dự án cơ sở hạ tầng) và cuối cùng là đầu tư ra nước ngoài. Bằng cách đó, các công ty này đi theo con đường phát triển kinh tế được vạch ra bởi các công ty khác đến từ những nền kinh tế mới nổi đã có hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

Vươn lên vị trí thứ 3 OFDI

Từ năm 2004 trở đi, đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc tăng đáng kể. Tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc tăng đạt 118 tỷ USD trong năm 2007 và vẫn tiếp tục gia tăng sau năm 2008, đối lập với xu hướng sụt giảm đầu tư nước ngoài toàn cầu. Năm 2013, tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc đạt 614 tỷ USD. Tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc vẫn còn nhỏ so với tổng vốn đầu tư toàn thế giới, tuy nhiên, xét về dòng vốn đầu tư ra nước ngoài, Trung Quốc đã vươn lên xếp vị trí thứ 3 trong số 6 nước đầu tư dẫn đầu thế giới trong những năm qua.

Các công ty Trung Quốc chủ yếu tập trung đầu tư tại châu Á và các thị trường mới nổi khác, trọng tâm là ngành sản xuất, khai khoáng và bán buôn bán lẻ. Tuy nhiên, mục tiêu của các công ty Trung Quốc là nhắm đến các nền kinh tế OECD lớn nhất (Đức, Anh, Canada, Hoa Kỳ). Như việc xây dựng nền tảng xuất khẩu để tiếp cận tốt hơn thị trường Bắc Mỹ, tăng cường các hoạt động của Trung Quốc tại Mỹ Latin.

Các công ty mở rộng hoạt động quốc tế có thể phân chia các loại: Những công ty xuất khẩu tập trung sử dụng một sản phẩm đơn lẻ hoặc một lĩnh vực thị trường đơn lẻ để đặt chân lên thị trường quốc tế. Những doanh nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế trong các mảng công nghệ cao – như TCL trong lĩnh vực sản xuất tivi, Lenovo trong ngành công nghiệp máy tính, và Huawei và ZTE trong lĩnh vực viễn thông. Thành công của họ, một phần có được là nhờ biết dựa vào sự hỗ trợ của các cơ sở nghiên cứu trong nước. Doanh nghiệp khai thác tài nguyên đặt mục tiêu bảo đảm nguồn nguyên liệu thô. 3 công ty dầu khí lớn của Trung Quốc (Sinopec, Petrochina, CNOOC) đang hoạt động trong nhiều dự án dầu và khí thiên nhiên ở nhiều quốc gia, trong đó có các nước nhạy cảm về địa chính trị như Iraq và Iran.

 Liên doanh và thâu tóm

Các công ty Trung Quốc đang ngày càng cố gắng hội nhập vào thị trường toàn cầu thông qua hoạt động mua bán sáp nhập xuyên biên giới. Về cơ cấu OFDI, trong năm 2011, 44% vốn OFDI của Trung Quốc bao gồm hoạt động mua bán sáp nhập, trong khi 55% còn lại là đầu tư mới. Năm 2012, các công ty Trung Quốc ở đại lục tiến hành 191 vụ sáp nhập ở nước ngoài với trị giá  giao dịch cao kỷ lục đạt 65,2 tỷ USD, tăng vọt hơn 50% từ 42,4 tỷ USD trong năm 2011.

Cuối cùng, tương tự như doanh nghiệp ở các nền kinh tế mới nổi khác khi đầu tư ra nước ngoài, tài sản chiến lược quan trọng mà các công ty Trung Quốc đang cố gắng theo đuổi là tạo dựng những thương hiệu toàn cầu. TCL, công ty sản xuất tivi lớn thứ tư thế giới trong năm 2012, là một thí dụ điển hình. TCL là một trong các công ty Trung Quốc đầu tiên cạnh tranh với các công ty đa quốc gia lớn trên trường quốc tế. Trong những năm 2000, chiến lược của công ty đã được niêm yết này là tìm kiếm liên doanh với những nhà sản xuất nước ngoài hàng đầu và tìm kiếm các thương vụ sáp nhập xuyên biên giới. Trong năm 2002 và 2003, công ty này đã mua được Schneider, một doanh nghiệp phá sản của Đức và công ty Go Video có trụ sở ở Hoa Kỳ. Quan trọng hơn, vào năm 2004, TCL đã thành lập liên doanh với các hãng điện tử lớn có trụ sở tại Pháp là Thomson và Alcatel, trong đó, TCL lần lượt giữ 67% và 55% vốn cổ phần. Cho đến bây giờ, TCL hoạt động theo chiến lược đa thương hiệu (TCL, Thomson, Alcatel), và trải rộng hoạt động sản xuất và mạng lưới kinh doanh của mình đến rất nhiều quốc gia, một phần cũng nhờ vào những nền tảng vững chắc và các kênh phân phối của các công ty liên doanh.

Để hiểu được tầm quan trọng của việc hỗ trợ về mặt chính sách đối với xu hướng quốc tế hóa của Trung Quốc, cần phải xem xét cơ cấu kinh tế trong nước của quốc gia này. Nền kinh tế chính trị hiện tại của Trung Quốc là nền kinh tế thị trường điều tiết bởi nhà nước. Đây là một hình thức có sự can thiệp lớn của nhà nước – hệ quả từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, trình độ phát triển thấp nên được tập trung hỗ trợ phát triển tối đa.

Nợ công phình to, bằng 250% GDP

Nếu như cả châu Âu phải gồng mình với món nợ công của Hy Lạp thì chỉ riêng một công ty nhà nước của Trung Quốc đã nợ đến 614 tỷ USD (gần gấp đôi món nợ của cả nước Hy Lạp). Nhân dân Nhật báo đã tung tín hiệu cảnh báo rằng sau khi mở van cho việc cung cấp tín dụng kích thích tăng trưởng kinh tế, Trung Quốc giờ đây phải giới hạn mức nợ công của mình nhằm ngăn chặn các khoản nợ khó đòi và tránh khủng hoảng tài chính.

Theo Nhân dân Nhật báo, nợ công Trung Quốc, vốn đã tăng cao và được chính quyền khuyến khích để vực dậy các hoạt động kinh tế đang bị khó khăn, không thể tiếp tục tăng triền miên. Theo đánh giá của Bloomberg Intelligence, nợ của Trung Quốc tổng cộng lên đến gần 250% GDP và các ngân hàng đang ghi nhận một đà tăng nhanh chóng của những khoản tín dụng khó đòi.

EU bác bỏ trao quy chế nền kinh tế thị trường cho Trung Quốc

Với 546 phiếu thuận và chỉ 28 phiếu chống, ngày 12-5, Nghị viện châu Âu (EP) đã thông qua nghị quyết bác bỏ việc trao quy chế nền kinh tế thị trường cho Trung Quốc. Đây là kết quả ngoài mong đợi của Trung Quốc, khi nước này hy vọng sẽ được Liên minh châu Âu (EU) chính thức trao quy chế nền kinh tế thị trường vào cuối năm nay.

Nghị quyết nêu rõ năng lực sản xuất dư thừa và xuất khẩu các mặt hàng giá rẻ của Trung Quốc đang gây ra “những hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường, tình hình kinh tế – xã hội” cho các nước thành viên EU. Nghị quyết trên cũng cho biết có tới 56 trong tổng số 73 biện pháp chống bán phá giá hiện nay của EU là nhằm vào các sản phẩm nhập khẩu từ nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này.


Đứng riêng

Đất quốc phòng, ranh giới nào ?

Những ngày qua, vấn đề sử dụng đất quốc phòng thu hút sự quan tâm của người dân. TTCT giới thiệu bài viết của GS.TSKH Đặng Hùng Võ, nguyên thứ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường, nhằm cung cấp thêm thông tin liên quan vấn đề này.

 Đất quốc phòng, ranh giới nào ?
Đường Võ Nguyên Giáp (Q.Sơn Trà, Đà Nẵng) trước đây có nhiều đơn vị quân đội đóng quân. Sau thời gian chính quyền Đà Nẵng thuyết phục, năm 2005 quân đội đã đồng ý di dời các đơn vị để có đất cho TP phát triển -Hữu Khá

Câu hỏi lớn nhất được đặt ra đối với khung pháp luật về quản lý và sử dụng đất quốc phòng là: mục đích gì được gọi là mục đích quốc phòng?

Tất nhiên câu trả lời không hề đơn giản, vì mục đích quốc phòng khá đa dạng và phức tạp. Ví dụ một đơn vị quốc phòng sử dụng đất để xây dựng nhà máy sản xuất vũ khí thì có đúng mục đích quốc phòng hay không?

Hay một đơn vị quốc phòng sử dụng đất nông nghiệp ở vùng cao, vùng xa, vùng sâu, nơi vắng dân cư vừa để bảo vệ đất nước vừa được thụ hưởng nông sản thì có gọi là cho mục đích quốc phòng hay không?

Vậy nên sử dụng đất vào mục đích quốc phòng hay kinh tế vẫn không thể có một ranh giới thực sự rõ ràng. Luật đất đai (LĐĐ) đã có thay đổi đáng kể trong góc nhìn về cách quản lý và sử dụng đất quốc phòng, nhưng đều chưa đạt được những tiêu chí hợp lý.

(more…)


Đứng riêng

Australia cần giữ cân bằng với Trung Quốc ở Biển Đông

Mới đây, Lầu Năm Góc đưa tàu khu trục có tên lửa dẫn đường USS William P. Lawrence đi vào bên trong vùng 12 hải lý xung quanh khu vực Trung Quốc xây dựng trên Đá Chữ Thập ở Biển Đông. Đây là lần thứ 3 kể từ tháng 11/2015, Hải quân Mỹ tiến vào khu vực này và tái khẳng định quyết tâm của Washington rằng Bắc Kinh không có tuyên bố chủ quyền đối với các đảo nhân tạo ở đó.

Đây là hành động thể hiện sức mạnh bá chủ toàn cầu nhằm ngăn chặn một Trung Quốc ngày một lớn mạnh. Liệu Australia có nên tán thành đề nghị của Mỹ tham gia tuần tra tự do hàng hải? Có thể nói, Australia là một cường quốc bậc trung, thương mại phát triển nhanh chóng, có quan hệ thương mại với Trung Quốc và không có tuyên bố chủ quyền trong khu vực.

Tại Australia hiện có nhiều quan điểm khác nhau. Công đảng đối lập có phần quyết đoán hơn so với Liên đảng cầm quyền.

(more…)


Đứng riêng

Indonesia, Malaysia và Philippines ký tuyên bố chung về an ninh hàng hải

Ngày 5/5, tại Yogyakarta (Indonesia), Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia Retno LP Marsudi, Bộ trưởng Ngoại giao Malaysia Dato ‘Sri Anifah Aman và Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Jose Rene D. Almendras cùng Chỉ huy quân đội Indonesia, Tướng Gatot Nurmantyo, Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia, Tướng Tan Sri Dato ‘Sri Zulkifeli và Phó Đô đốc chỉ huy các lực lượng vũ trang Philippines Adm. Caesar C. Taccad, đã ký tuyên bố chung về an ninh hàng hải. Các bên đã nhất trí tiến hành các cuộc tuần tra chung, phối hợp trên biển, nhằm tăng cường an ninh hàng hải sau vụ các thuyền viên người Indonesia bị các đối tượng thuộc tổ chức   Abu Sayyaf, miền Nam Philippines bắt giữ. Các Bộ trưởng và Tư lệnh quân đội các nước nói trên đã nhất trí “tiến hành các cuộc tuần tra trên biển giữa ba nước bằng việc sử dụng các cơ chế hiện hành”. Ngoài việc tuần tra chung, các quan chức còn nhất trí thiết lập “đường dây nóng” để “phối hợp tốt hơn”, cũng như chia sẻ kịp thời thông tin tình báo trong các trường hợp khẩn cấp hay xuất hiện các mối đe dọa an ninh. Theo tuyên bố chung, ba nước cũng nhất trí tích cực hỗ trợ người và tàu gặp nạn tại các khu vực biển cùng quan tâm.

(more…)


Đứng riêng

Thấy gì từ chuyến thăm đầu tiên của Tổng thống Mỹ tới Hiroshima?

Phát ngôn viên Nhà Trắng cho biết, Tổng thống Mỹ Barack Obama sẽ thăm Việt Nam và Nhật Bản từ ngày 21 đến 28/5 trong chuyến công du thứ 10 của ông đến châu Á. Chuyến thăm sẽ nêu bật cam kết không ngừng của tổng thống với chiến lược tái cân bằng của Mỹ sang châu Á – Thái Bình Dương. Đây là chiến lược nhằm tăng can dự của Mỹ về ngoại giao, kinh tế và an ninh với các nước và nhân dân trong khu vực.

Sau Việt Nam, ông Obama sẽ đến Nhật Bản tham gia Hội nghị Thượng đỉnh G7 ở Ise-Shima. Ông cũng sẽ có chuyến thăm lịch sử đến thành phố Hiroshima cùng Thủ tướng Nhật để nêu bật cam kết không ngừng của ông đối với việc mưu cầu hòa bình và an ninh của một thế giới không có vũ khí hạt nhân.

Để xoa dịu các vết thương cũ và thúc đẩy những mối quan hệ mới, ông Barack Obama sẽ trở thành Tổng thống Mỹ đương nhiệm đầu tiên đến thăm Hiroshima, thành phố 70 năm về trước hứng chịu một quả bom nguyên tử do Mỹ ném xuống.

(more…)


Đứng riêng

Quan hệ Mỹ-Việt: Từ kẻ thù đến đồng minh

Vào ngày 30/4/1975, chế độ Sài Gòn sụp đổ đã đánh dấu chấm hết cho cuộc chiến đẫm máu ở Việt Nam. Và hôm nay, 40 năm sau thảm kịch, trước thềm chuyến thăm Việt Nam lịch sử của Tổng thống Mỹ Barack Obama, hiện trạng quan hệ Mỹ – Việt Nam đã thay đổi sâu sắc. Tuy nhiên, rõ ràng vẫn còn tồn tại nhiều nghi ngại cũng như khó khăn để hai quốc gia có thể thúc đẩy một quan hệ đối tác hiệu quả hơn.

1. Từ kẻ thù đến đối tác: Kể từ khi Hiệp định Thương mại song phương có hiệu lực từ năm 2001, giá trị trao đổi thương mại hai chiều Mỹ – Việt Nam đã tăng rất nhanh chóng, từ khoảng 1 tỷ USD năm 2000 đến hơn 45 tỷ USD năm 2015. Và giờ đây, tâm điểm của quan hệ thương mại song phương còn là Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), hiệp định đánh dấu sự giao thương tự do giữa Mỹ và 11 quốc gia trong khu vực Thái Bình Dương; trong đó có Việt Nam (ký ngày 4/2). Hiệp định này sẽ sớm có hiệu lực khi tất cả các bên tham gia phê chuẩn. Lợi ích của Hiệp định này là rất đáng chú ý với phạm vi điều chỉnh hơn 20 lĩnh vực quan trọng bao gồm cả bảo vệ môi trường, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, dược phẩm, tiêu chuẩn lao động… Bên cạnh đó, những quốc gia tham gia vào Hiệp định này đang chiếm khoảng 40% tổng GDP toàn thế giới.

(more…)