Thông tin tổng hợp

Mới nhất

Đứng riêng

Lỗ hổng an ninh năng lượng – Bài 4: Đường xa với năng lượng sạch

.
.

Biến đổi khí hậu đã khiến những nguồn năng lượng ít phát thải, ít ô nhiễm môi trường lên ngôi. Tuy nhiên, với thực tế địa hình của Việt Nam, việc khai thác các nguồn năng lượng sạch cần những chính sách cụ thể và nhất quán.

Đọc tiếp »

Đứng riêng

Lỗ hổng an ninh năng lượng – bài 3: Mối lo “3 không” từ nguồn điện

.
.

Ngành điện đang phải đối diện với thực tế không có dự phòng, không có nguồn điện lớn mới và không dễ nhập khẩu điện.

Dự phòng… hết nhẵn

Năm 2018, phụ tải đỉnh của hệ thống điện cả nước ở thời điểm cao nhất vào đầu tháng 7 đạt tới 35.110 MW. Đáng nói là, thời điểm đó, dù công suất các nhà máy điện hiện có trong hệ thống là khoảng 44.500 MW, nhưng công suất khả dụng có thể huy động được chỉ là 35.000 MW.

Theo ông Thái Phụng Nê, nguyên Bộ trưởng Bộ Năng lượng (người nhiều năm là Phái viên của Thủ tướng Chính phủ về các công trình điện), thực tế trên là điều đáng lo, bởi như vậy là năm 2018, hệ thống điện đã cạn sạch dự phòng. Sang năm 2019, dù chưa tới cao điểm nắng nóng, phụ tải đỉnh của hệ thống đã vọt lên 35.700 MW vào ngày 24/4, trong khi công suất khả dụng hiện chỉ nhỉnh hơn 37.000 MW.

Năm 2015, hệ thống điện cả nước có mức dự phòng 15-20%. Điều này có được là nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ và các bộ, ngành nhiều năm trước đó, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các nhà đầu tư đã chủ động xây dựng các nguồn điện lớn, nên có dư dả phòng khi “trái gió, giở trời”.

“Cũng chính nhờ những nỗ lực trên mà từ năm 2011-2017, ngành điện đã không để xảy ra tình trạng thiếu điện, đảm bảo việc cấp điện cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên, tới năm 2018 thì không còn dự phòng nữa. Điều này là rõ ràng và hậu quả có thể nhìn thấy, nhưng giải pháp khắc phục lại chưa thấy đề ra”, ông Nê trăn trở.

Tính toán cân bằng của hệ thống điện năm 2019 cho thấy, công suất hữu dụng ­­có thể đạt 37.000 – 39.000 MW so với công suất đặt của toàn hệ thống đang ở quanh mức 50.000 MW. Nghĩa là, nếu hệ thống phải đối mặt với mức tăng trưởng 10% về phụ tải sử dụng điện như những năm qua, tức là công suất đỉnh của năm 2018 sẽ tiếp tục tăng thêm khoảng 3.500 – 4.000 MW, thì dự phòng của hệ thống điện tiếp tục ở tình trạng không có, gây căng thẳng trong đảm bảo cấp điện.

Cơ cấu và tổng công suất nguồn đặt từ 2010-2018.
Cơ cấu và tổng công suất nguồn đặt từ 2010-2018.

Ông Nguyễn Đức Cường, Giám đốc Trung tâm điều độ Hệ thống điện quốc gia (A0) cho hay, năm 2018, hệ thống điện quốc gia vận hành trong tình trạng khó khăn với mức tăng trưởng phụ tải cao. Sự căng thẳng vẫn tiếp diễn trong năm 2019 với nhiều thách thức lớn. Khó khăn đầu tiên được A0 nhắc tới là đảm bảo nhiên liệu cho phát điện. Đây là vấn đề đã diễn ra trong năm 2018, nhưng dự kiến còn kéo dài trong năm 2019 và các năm tiếp theo.

Năm 2018, miền Nam đã phải đối diện với thiếu hụt nguồn cung điện do sản lượng khí cấp thấp hơn so với kế hoạch gần 450 triệu m3, tương ứng 2,5 tỷ kWh. Việc cấp than trong nước cũng không đáp ứng được nhu cầu sản xuất điện, đặc biệt trong 3 tháng cuối năm. Ðể đảm bảo an ninh cung cấp điện, EVN phải tăng huy động các nhà máy thủy điện, làm giảm mức nước dự trữ để cấp điện cho năm 2019, tương đương 2,56 tỷ kWh.

Cơ cấu sản lượng nguồn khai thác từ 2011-2018.
Cơ cấu sản lượng nguồn khai thác từ 2011-2018.

Theo dõi thực tế vận hành của A0 cũng cho thấy, nguồn khí trong nước đã giảm mạnh và chưa có nguồn bổ sung. Các tháng cuối năm 2018, nguồn cấp khí Nam Côn Sơn chỉ còn khoảng 16,5 triệu m3/ngày, bằng 75% so với những năm trước. Năm 2019, dù nguồn khí nội được bổ sung bằng mỏ Phong Lan Dại, nhưng các chuyên gia cũng đánh giá là “chưa ổn định và cũng không đủ cho nhu cầu của toàn bộ các nhà máy tua-bin khí”.

Ngoài khí, than cũng đang đối mặt với khả năng không đủ cho phát điện. “Nếu tình hình cấp than, cấp khí trong thời gian tới không được cải thiện, sẽ gây nhiều khó khăn trong công tác vận hành, đặc biệt là trong mùa khô năm 2019”, ông Cường nói.

Thủy điện, nhiệt điện than, nhiệt điện khí là 3 nguồn chính hiện nay, chiếm tỷ trọng lần lượt là 34,1%, 38,34% và 15,07% trong tổng công suất đặt nguồn điện cả nước và thực tế đóng góp trong vận hành năm 2018 tương ứng là 37,7%, 41,6% và 18,4%.

Nhiều dự án nguồn điện “bất động”

Trong kiến nghị gửi các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ cuối năm 2018, ông Trần Viết Ngãi, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam đã thẳng thắn cho rằng, với những kế hoạch phát điện được đặt ra trong Quy hoạch Điện VII điều chỉnh đã được phê duyệt, phải có những giải pháp đột phá mạnh mẽ mới đảm bảo được mục tiêu về công suất nguồn điện cũng như sản lượng điện.

Sản lượng điện nhập khẩu và xuất khẩu 2011-2018:
Sản lượng điện nhập khẩu và xuất khẩu 2011-2018.

Trong 4.292,8 MW công suất nguồn điện mới có kế hoạch đưa vào vận hành năm 2019 theo Quyết định 4677/QĐ-BCT, chỉ có 2 nguồn điện quy mô lớn (đều do EVN đầu tư) là Nhiệt điện Duyên Hải 3 mở rộng (688 MW) và Nhiệt điện Vĩnh Tân 4 mở rộng (600 MW). Có tới 2.700 MW công suất điện mới đến từ nguồn năng lượng tái tạo, gồm điện mặt trời (1.700 MW), điện gió (137 MW) và thủy điện nhỏ (837 MW). Tuy nhiên, trong tổng số 242 tỷ kWh điện sẽ sản xuất năm 2019, phần đóng góp của các nguồn năng lượng tái tạo chỉ là 3,12 tỷ kWh, chiếm tỷ trọng… 0,0128%.

Hàng loạt nguồn điện truyền thống quy mô lớn được lên kế hoạch vận hành trong năm 2019 không thể về đích như Nhiệt điện Long Phú 1 (1.200 MW), Nhiệt điện Sông Hậu 1 (1.200 MW) dù đã vài lần lùi kế hoạch.

Năm 2020, nhiều dự án  lớn cũng không thể về đích theo lời hẹn trong Tổng sơ đồ Điện VII điều chỉnh là Nhiệt điện Công Thanh (600 MW), tổ máy 1 (600 MW) BOT Hải Dương 1, Nhiệt điện Cẩm Phả 3 (2×220 MW)…

“Năm 2019 – 2020 cần thêm 10.000 MW nguồn điện mới, nhưng thực tế rà soát của EVN cho thấy, chỉ có từ 2.000 – 2.500 MW nguồn điện truyền thống được đưa vào, bên cạnh một số nguồn năng lượng tái tạo”, ông Ngô Sơn Hải, Phó tổng giám đốc EVN cho biết.

Năm 2021 cũng không có gì sáng sủa khi hàng loạt dự án điện lớn vẫn đang im lìm trên thực địa hay chơi vơi đâu đó. Đó là tổ máy 1 (600 MW) của BOT Nghi Sơn 2, tổ máy 2 (600 MW) của BOT Hải Dương 1, tổ máy 1 (600 MW) của BOT Vũng Áng 2, Tua-bin khí Kiên Giang 1 (750 MW), BOT Duyên Hải 2 (1.200 MW), tổ máy 1 (1.000 MW) của BOT Sông Hậu 2, tổ máy 1 (600 MW) của BOT Long Phú 2… Nhiều dự án do EVN là chủ đầu tư như Thủy điện Hòa Bình mở rộng (240 MW), Nhiệt điện Quảng Trạch 1 (1.200 MW), Thủy điện Ialy mở rộng (360 MW) tới giờ vẫn đợi khởi công.

Thực tế trong 3 năm trở lại đây, đã có sự dè chừng của các địa phương với nhiệt điện than bởi sợ ô nhiễm, lo người dân phản đối. Tuy nhiên, chuyện hàng loạt dự án điện than khó thi công tại những khu vực không có khả năng làm thủy điện hay nhiệt điện khí cũng khiến miền Nam rơi vào tình trạng hết nhẵn nguồn dự phòng, trong khi đây lại là vùng có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của cả nước.

Việc trông chờ đầu tư nước ngoài trong ngành điện cũng rất khó khăn. Hiện chỉ có 4 nhà máy điện BOT được đưa vào sản xuất, 14 dự án khác vẫn đang đàm phán và hầu hết trong số này chậm tiến độ. Đáng nói, trong 14 dự án BOT đang đàm phán này, có những dự án đã bắt đầu công việc tại Việt Nam cả chục năm.

Xót xa khi hàng loạt dự án điện lớn không thể triển khai hoặc lúng túng với các vướng mắc hiện nay, ông Nê cho hay, nếu năm 2017, EVN được phép xây dựng Nhà máy Điện Quảng Trạch 1 (1.200 MW), thì cũng không có nghĩa trong 6 tháng hay 1 năm nữa, sẽ vận hành nhà máy và giải quyết được chuyện hết công suất dự phòng như hiện nay.

“Ít nhất phải mất từ 3,5 – 4 năm, với sự cố gắng, giám sát tiến độ một cách nghiêm túc, thì mới thực hiện được. Với thực tế này, không chỉ giai đoạn 2019 – 2021, thiếu điện trầm trọng sẽ xảy ra, mà còn tiếp diễn trong nhiều năm sau nữa. Thậm chí, nếu không có biện pháp khắc phục nhanh chóng và quyết liệt, chúng ta sẽ đi đến tình trạng như trước đây là cắt điện triền miên”, ông Nê nói.

Điện nhập khẩu cũng không dễ

Trong khi các nguồn điện lớn trong nước khó đẩy nhanh tiến độ, nguồn điện nhập khẩu đang được trông chờ để gia tăng nhanh nguồn cung ứng điện. Năm 2018, lượng điện mua từ Trung Quốc là 1,6 tỷ kWh, từ Lào là 1,4 tỷ kWh, chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong 212,9 tỷ kWh điện sản xuất và mua ngoài.

Cho rằng, điện nhập khẩu là “cơ hội cho Việt Nam”, vì các nước láng giềng có khả năng bán, còn Việt Nam sẽ tiết kiệm thời gian đầu tư, giảm ô nhiễm môi trường, nhưng ông Thái Phụng Nê cũng đặt ra vấn đề “phải chủ động nghiên cứu, tính toán” để mua được.

“Các nước bán điện theo lợi ích của họ, mình mua điện theo lợi ích của mình. Như vậy, phải thông qua đàm phán và cần phải đàm phán nhanh và phải giải quyết giá hợp lý, chứ cứ khăng khăng theo giá điện của Việt Nam, thì không đàm phán được”, ông Nê nói.

Đó là chưa kể, nếu đặt kỳ vọng tỷ trọng điện nhập khẩu chiếm 10% hệ thống, thì với công suất đặt gần 50.000 MW hiện nay, hay năm 2025 là 96.000 MW, nhu cầu điện nhập khẩu từ 5.000 – 10.000 MW/năm được xem là thách thức không nhỏ.

Một chuyên gia tham gia đàm phán mua điện của Trung Quốc cho hay, mức mua khoảng 2 tỷ kWh/năm hiện mang tính chất “họ dư và ta có nhu cầu”, nhưng nếu muốn mua tầm 10 tỷ kWh/năm, phải giải quyết chuyện đầu tư đường truyền tải ở hai bên, đối tác cũng phải đầu tư nguồn đàng hoàng, nên giá điện chắc chắn sẽ khác. “Dù mua được 10 tỷ kWh/năm thì so với sản lượng hơn 200 tỷ kWh/năm hiện nay, điện nhập khẩu vẫn chỉ chiếm con số rất nhỏ”, vị chuyên gia này nói.

Nhắc đến vấn đề này, ông Nê trầm tư: “Họ có thể bán điện cho ta khi thoả mãn được giá điện, nhưng nếu có chuyện gì xảy ra, họ cắt điện, ta sẽ ứng phó ra sao với sự thiếu hụt này, nhất là khi nhập ở quy mô lớn. Phải nói thẳng là, không thể chỉ nói nhập khẩu mà không làm. Không thể lấy nguồn điện ở nước ngoài để làm dự phòng của chúng ta. Đối với một số nước thì mình cũng là nước nhỏ”.

(Còn tiếp)

Thanh Hương
Đứng riêng

Lỗ hổng an ninh năng lượng – Bài 2: Mòn mỏi dự án dầu khí

Trong khi than gặp thách thức về đáp ứng nguồn cung, thì nguồn được trông chờ để bổ sung cho phát điện sạch, với công suất lớn là khí cũng đối mặt với nhiều khó khăn từ khai thác và nhập khẩu.

.
.

 

 

Đọc tiếp »

Đứng riêng

Lỗ hổng an ninh năng lượng – Bài 1: Trĩu nặng “nỗi lo than”

Trong 3 năm trở lại đây, đầu tư cho ngành năng lượng, gồm điện – than – dầu khí, suy giảm đã tạo ra khoảng trống, gây áp lực lớn lên an ninh năng lượng của nước ta. Với một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, liên tục, để thoát “bẫy thu nhập trung bình”, thì an ninh năng lượng phải là trụ cột trong chính sách phát triển, chứ không thể là “gót chân Asin” của nền kinh tế.

Với 3,096 triệu tấn than nhập khẩu có trị giá 364 triệu USD vào năm 2014, Việt Nam đã chuyển từ nước xuất khẩu năng lượng ròng sang nhập khẩu năng lượng ròng sớm hơn dự báo.

Ngành than đang thường trực “nỗi lo nhập khẩu”, vì khả năng sản xuất than thương phẩm tới năm 2035 tăng không nhiều.
Ngành than đang thường trực “nỗi lo nhập khẩu”, vì khả năng sản xuất than thương phẩm tới năm 2035 tăng không nhiều.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đọc tiếp »

Đứng riêng

Chuông gió

chuong-gio-1539-1533710977

Cái chuông gió lần đầu tôi nhìn ( và nghe thấy), lâu lắm rồi, là một cái chuông gió đẹp lắm. Những con cá dẹt mỏng , những ngôi sao nhiều cánh, đều làm từ đất nung màu xanh và hồng, treo vào những sợi dây cước cực kỳ mảnh, để một cơn gió thật nhẹ nào đi qua cũng hối hả lanh canh reo vui.

Tôi yêu chuông gió từ đấy, tiếng của những mảnh đất nung chạm vào nhau trong vắt, êm và sâu, và ngọt ngào tươi tắn. Tôi cũng chỉ yêu mỗi cái chuông gió ấy thôi. Nó tan tành vào một buổi sáng cuối xuân, gió nam hơi mạnh, con mèo con không chịu được một cái gì lay động nhiều như thế, với âm thanh kích động đôi tai của nó như thế, nên hầu như các dây cước mảnh đều bị giật đứt tung và cá, cùng những ngôi sao nhiều màu xanh hồng đều rơi vỡ tan nát trên nền nhà.

Nhiều năm sau, tôi không có một cái chuông gió nào, chỉ vì không tìm được cái chuông bằng đất nung già như vậy. Đã nghe tiếng đất trong vắt như thế, khó mà chịu được những cái chuông gió thủy tinh và kim loại bỗng đâu rất phổ biến. Thỉnh thoảng nghe mơ hồ trong gió một tiếng lanh canh trong vắt ấm áp, nhớ cái chuông gió xưa của mình lạ lùng.

Mấy hôm trước, tôi đi thăm một người đàn bà tật nguyền sống đơn độc trên thuyền, ở một khúc sông nhỏ, nhánh của sông Hồng, phía bên tả ngạn. Chị ấy, tên là Sen, không sống được trên bờ vì không thể đi được bằng chân. Đôi chân Sen teo lại, quặt ra phía sau. Nhưng Sen có thể chèo thuyền, có thể đặt vó tôm cá, để kiếm chút tiền sống qua ngày trên khúc sông hoang vắng, hắt hiu chỉ có dăm ba con thuyền neo lại. Nhưng chèo được thuyền, chỉ là khi khỏe, Sen đau ốm triền miên. Những lúc ốm, chỉ có cách nằm im trên thuyền, nghe gió sông bần bật thổi lật những tấm tôn đã rách nát trên mui thuyền. Sen chưa khóc trước mắt tôi bao giờ, suốt bốn năm nay, từ lần tình cờ chúng tôi đi qua khúc sông này, và biết Sen. Một phụ nữ tật nguyền nặng nề như thế, cứ gắng sống qua hết cơn đau này đến cơn đau khác. Bền bi chịu đựng. Nhẫn nại sống dù sống như vậy chẳng khác gì bị đày đọa. Đôi khi tôi nghĩ, sống như thế, sao không một lần buông thân mình khỏi thuyền, tấm thân nhẹ như chiếc lá? Suốt mấy năm, gọi điện thoại cho Sen lần nào, cũng có cảm giác lo sợ rằng đầu bên kia không ai trả lời. Nhưng Sen vẫn sống, can đảm sống, chút xíu trợ cấp xã hội và tiền từ thiện ít ỏi nhận được, chỉ để uống thuốc và mãi vẫn cứ đau, hết u vú lại đại tràng.

Trên con thuyền như túp lều nát của Sen, sạch sẽ dù chật chội, điều làm tôi kinh ngạc nhất là chuông gió. Không phải một mà những hai cái, làm từ vỏ sò và vỏ ốc biển, treo giữa thuyền và mui thuyền. Không biết ai đã cho Sen. Hai cái chuông gió có thể gặp ở bất cứ bãi biển nào, trong những hàng bán đồ lưu niệm. Tôi không biết chúng về đây bằng cách nào. Màu trên những vỏ sò đã bạc phếch. Nhưng khi gió, chúng vẫn leng keng. Tiếng leng keng của biển, trên khúc sông bé tẹo này.

Tôi không biết Sen có mơ gì không từ những tiếng biển xa xôi ấy. Sen chưa đi đâu khỏi khúc sông, Sen chưa từng biết biển. Nhưng nhìn cách Sen treo hai cái chuông, có lẽ Sen yêu quý chúng lắm. Trong chiếc thuyền nát hầu như không đồ đạc gì ngoài mấy thứ cực kỳ thiết yếu với Sen là bàn thờ, một cái nồi, một cái bát, đôi đũa… Hai cái chuông gió như một thứ chẳng hề liên quan. Đồ vật cũng có khi lạc lối. Con người đến với cuộc đời cũng thế, như Sen, lạc vào khúc sông này.

Không hiểu sao hai cái chuông gió bằng vỏ sò vỏ ốc ấy làm tôi nhói lòng đến thế. Người đàn bà tàn tật sống như một cây lau lách ở khúc sông tù túng này có khi cũng mong một lần ra biển. Cứ hình dung mỗi lần gió lớn. Sông mà, dù sông nhỏ thôi, nhưng vẫn hun hút gió, những cái chuông vỏ ốc rung lên hốt hoảng, một người đàn bà tàn tật nằm đấy nghe tiếng chuông gió trên đầu, tự dưng cay mắt lắm.

Tiếng chuông gió xa xưa của tôi, dù rất khác, cũng về cùng tiếng chuông gió vỏ ốc của Sen.

Hà Phạm

Đứng riêng

Noam Chomsky:’Trong vài thế hệ nữa, xã hội có tổ chức của loài người có thể diệt vong’

Học giả Noam Chomsky:'Trong vài thế hệ nữa, xã hội có tổ chức của loài người có thể diệt vong'

Cháy rừng diện rộng do biến đổi khí hậu ở California năm 2018. Ảnh: EcoInternet

“Tôi nghĩ cần một phong trào quần chúng mạnh mẽ, để thúc ép truyền thông đề cập tới các cuộc khủng hoảng mà chúng ta đang đối mặt bằng cách tạo ra áp lực liên tục. Hoặc đơn giản là tạo ra các kênh thông tin thay thế để áp đảo thị trường thông tin” – Noam Chomsky.

Năm nay bước sang tuổi 90, Noam Chomsky là một trong những học giả và nhà tư tưởng tiêu biểu nhất của thời hiện đại. Vẫn miệt mài làm việc, ông hiện giảng dạy một khóa về khủng hoảng toàn cầu và chính trị tại Đại học Arizona, Mỹ. Trong những năm gần đầy, Chomsky chuyển trọng tâm nghiên cứu sang mối đe dọa hiện hữu về sự tồn vong của loài người trước biến đổi khí hậu, mà ông coi là “mối đe dọa tới sự tồn vong của đời sống loài người có tổ chức”, tương tự chiến tranh hạt nhân.

 

Trong bài phỏng vấn độc quyền với National Observer gần đây, Chomsky đề cập trực tiếp mối quan hệ cụ thể giữa truyền thông và khủng hoảng khí hậu.

Đọc tiếp »

Đứng riêng

Ai chịu trách nhiệm về khoản lỗ hơn 4.000 tỷ ở Hãng hàng không Jetstar?

Công ty con của Vietnam Airline thường xuyên lỗ

JPA được thành lập từ tháng 4/1991 với vốn góp 40 tỷ đồng của 7 cổ đông là doanh nghiệp Nhà nước. Năm 1995, JPA trở thành đơn vị thành viên của Hãng hàng không Vietnam Airlines (VNA). Sau đó, phần vốn góp nhà nước được chuyển giao cho Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) nắm giữ. 

Năm 2007, Tập đoàn hàng không lớn Australia là Qantas đã mua lại 30% cổ phần của JPA để trở thành cổ đông chiến lược của hãng. Đến tháng 2/2012, một lần nữa Vietnam Airlines trở thành cổ đông lớn nhất của JPA khi tiếp nhận quyền đại diện 70% cổ phần từ SCIC. Hiện nay, các cổ đông của JPA là Vietnam Airlines (nắm 68,86% cổ phần), Qantas (nắm 30% cổ phần) và Saigontourist (nắm 1,14% cổ phần). 

Trước khi Vietjet Air gia nhập thị trường hàng không thì Việt Nam chỉ có hai hãng hàng không chính cung cấp dịch vụ bay nội địa. Mặc dù thị trường rộng lớn nhưng JPA không có kết quả kinh doanh khả quan, thậm chí luôn ở tình trạng lỗ.

Được biết, trong giai đoạn 2008 – 2009, JPA báo lỗ tới gần 700 tỷ đồng trên doanh thu chỉ 1.700 tỷ đồng. Ban lãnh đạo của JPA lý giải, công ty lỗ là từ bảo hiểm xăng dầu (fuel hedging) và chi phí phạt do huỷ hợp đồng thuê máy bay đã ký trong năm 2008. Giai đoạn 2010-2011, mặc dù không còn chịu tác động từ các khoản chi phí bảo hiểm xăng dầu và phí phạt do huỷ hợp đồng thuê máy bay nhưng JPA vẫn bị thua lỗ và số lỗ năm 2011 lại tăng gấp đôi so với năm 2010, lên hơn 430 tỷ đồng. 

Khi VNA trở thành cổ đông, JPA không những không thoát khỏi tình trạng lỗ mà trái lại, số lỗ còn lớn hơn. Cụ thể, hãng hàng không giá rẻ báo lỗ sau thuế gần 900 tỷ đồng trong năm 2016, và lỗ hoạt động kinh doanh 1.000 tỷ đồng trong năm 2017. Tính tới cuối năm 2017, lỗ lũy kế của JPA đã lên tới trên 4.286 tỷ đồng, vượt qua cả vốn điều lệ của công ty.

Theo kế hoạch, từ nay đến năm 2020, hai cổ đông lớn là Vietnam Airlines và Quatas dự kiến sẽ tiếp tục bổ sung vốn cho JPA và nếu JPA tiếp tục thua lỗ thì đồng nghĩa với việc vốn của VNA đầu tư vào đây bốc hơi theo những chuyến bay của công ty con mà VNA là cổ đông nắm quyền quyết định.

Lãnh đạo công ty thua lỗ trở thành Tổng giám đốc  Vietnam Airline

Việc JPA thua lỗ gây trực tiếp làm mất tài sản của các cổ đông theo tỷ lệ vốn góp mà các cổ đông sở hữu. Theo đó, với 68,86% cổ phần phổ thông tại JPA thì VNA sẽ là cổ đông chịu thiệt hại nhiều nhất. Trong khi đó, Vietnam Airlines là doanh nghiệp mà Nhà nước đang nắm 86,16% cổ phần nên thực tế Nhà nước đã gián tiếp gánh lỗ “nghìn tỷ” ở JPA.

Câu hỏi đặt ra là, với những thua lỗ trên thì trách nhiệm thuộc về ai? Có lẽ chính là những người lãnh đạo, chèo lái con tàu JPA, bao gồm lãnh đạo HĐQT Công ty và Tổng giám đốc.

Theo hồ sơ nhân sự của JPA thì những lãnh đạo của JPA trong thời kỳ thua lỗ đều có tên các lãnh đạo của Vietnam Airline hiện nay. Theo đó, ông Dương Chí Thành, Tổng giám đốc của Vietnam Airline hiện nay từng giữ chức Chủ tịch HĐQT của JPA. Thời điểm này, ông Dương Chí Thành là Phó tổng giám đốc Vietnam Airline kiêm chức Chủ tịch HĐQT của JPA.

Người thứ hai phải kể đến là ông Lê Hồng Hà, Phó tổng giám đốc Vietnam Airline hiện nay. Ông Lê Hồng Hà giữ chức Tổng giám đốc của Jetstar trong 3 năm liên tục, từ tháng 3/2012 đến tháng 3/2015. Hiện nay ông Lê Hồng Hà đang là Phó tổng giám đốc phụ trách thương mại của hãng hàng không Quốc gia Việt Nam.

Ngoài ra, một cán bộ quan trọng của Vietnam Airline cũng từng giữ chức vụ quan trọng trong Jetstar là ông Lê Đức Cảnh, Trưởng Ban đầu tư của hãng hàng không Quốc gia Việt Nam. Ông Lê Đức Cảnh từng là kế toán trưởng của hãng hàng không Jetstar.

Nếu truy trách nhiệm đến cùng đối với các khoản thua lỗ từng thời kỳ của hãng hàng không Jetstar thì phải là rõ trách nhiệm của lãnh đạo Công ty. Tuy nhiên, đến thời điểm này, ngoài việc ông Lương Hoài Nam, Tổng giám đốc của Jetstar năm 2010 bị bắt thì không có cá nhân nào bị xử lý. Thậm chí, các lãnh đạo của Jetstar sau này còn được thăng chức cao hơn. Cụ thể, ông Dương Chí Thành được biệt phái làm Chủ tịch Jetstar nay đã được bổ nhiệm là Tổng giám đốc của VNA còn ông Lê Hồng Hà giữ chức Phó Tổng giám đốc của VNA. Như vậy, khoản lỗ nghìn tỷ đối với Nhà nước vẫn chưa tìm được người chịu trách nhiệm.

Báo Pháp luật Việt Nam sẽ tiếp tục thông tin./.